Plaiboi's blog

kuong@ymail.com

Một nghệ sỹ của Hải Phòng

on Tháng Sáu 2, 2007

Khi cái chết đến với một con người thì cũng từ đó một cuộc sống mới nảy sinh. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống vẫn còn tiếp tục sau cái chết có lẽ là sự công bằng, điều cả loài người mong ước như một khát khao hướng thiện.

Nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động cách mạng Lê Ðại Thanh đang sống cuộc sống thứ hai đó trong mỗi chúng tôi, những người dân thành phố Hải Phòng, thành phố của hoa phượng, của xi-măng, của Ao Than, Quán Nải, Máy Chỉ, Máy Tơ, Ca-rông, Xac-rích ngày xưa, của Duyên Hải, Tổ đá nhỏ Ca A vang bóng một thời, của những khu công nghiệp tập trung trong thời đổi mới hôm nay. Và Hải Phòng của biển, của những hồi còi tàu cất lên chào bến cảng.

Hải Phòng từ lâu đã là một thành phố của giai cấp, của phong trào công nhân, của công nghiệp. Nhưng Hải Phòng không chỉ có thế. Hải Phòng còn là một địa chỉ của Văn hoá, một ngọn nguồn Văn nghệ với những người đã góp phần to lớn vào dòng chảy của dòng sông văn hoá – văn nghệ Việt Nam: Thế Lữ, Khái Hưng, Lan Sơn, Lê Ðại Thanh, Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Lê Thương, Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Canh Thân, Ðoàn Chuẩn, Văn Cao, Nguyễn Ðình Thi, Ðỗ Nhuận…

Giữa những tên tuổi ấy, Lê Ðại Thanh là một trong những người đi trước. Và trong số ấy cũng chỉ có Lê Ðại Thanh với Nguyên Hồng là gắn bó cả đời với Hải Phòng. Cuối cùng, theo phép rút gọn chỉ còn một Lê Ðại Thanh là duy nhất đã sinh ra, lớn lên, sống và chết ở Hải Phòng theo cả nghĩa đen.

Mảnh đất mặn phù sa nước mắt Hải Phòng đón nhận ông. “Chết là trở về với tinh thể sao trời. Trả trái đất những gì vay mượn trước” như thơ ông viết.

Linh hồn ông đã trở về với trời sao. Thể xác ông từ đất lại trở về với đất. Vậy là ông đã sạch nợ nần với vũ trụ. Không những thế, ông còn trả cả lãi. Ðó là món nợ với con người, là những gì trong nghệ thuật ông để lại cho chúng ta, thứ “thập loại chúng sinh” còn sống, chưa “xuống ga đời” chưa “trả lại vé quê hương”.

Ông làm chúng ta vui lên, ông làm chúng ta yêu đời, ông làm chúng ta có thêm nghị lực sống. Ông là sự hấp dẫn hãy hiến dâng trọn đời cho nghệ thuật, cho cái đẹp, nhưng cũng là lời cảnh báo cho những ai muốn bước vào con đường nghệ thuật, hãy xem xét lục lọi hành trang của mình: Có đủ tình yêu và lòng dũng cảm hay không? Và đừng bao giờ coi nghệ thuật là đồ trang sức. Càng không thể chơi trò chơi văn nghệ.

Trong lễ mừng thọ ông 80 tuổi, nhà thơ Dư Thị Hoàn ngày ấy mới sáng tác những bài thơ đầu tiên, đã đọc một bài thơ tặng ông, nói lên tác động của ông đối với những thế hệ tiếp theo, những người ngoại đạo đứng nhìn vào “đám đông nghệ thuật”:

“Tôi như một đứa trẻ
Bị hất hàm đuổi ra khỏi đám đông
Huyền thoại là ông
Người ta nói về ông kỳ dị
Khắc hoạ ông quái lạ
Một hoang mạc không có bến cho tuổi già
Tôi nấp
Tôi nghe
Tôi nín thở
Tất cả trong tôi vỡ vụn ra
Sức cộng hưởng đang tàn phá
Tôi bắt gặp thi ca.”

Sinh năm 1907, mất năm 1996, Lê Ðại Thanh đã cõng trên lưng gần trọn thế kỷ 20, một thế kỷ mang trên mình, như Huy Cận đã viết:

“Bao nhiêu mầm ung độc
Bao nhiêu nụ hoa đời.”

Trong bản lý lịch hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Lê Ðại Thanh viết: “Mẹ tôi đẻ tôi sau những năm Nga-Nhật chiến tranh trên bờ sông đào Hải Phòng. Thế giới của tôi là cái thành phố công nhân mới tạo lập đầy những đầm ao, đầy những tiếng ếch, tiếng ễnh ương, tiếng hát của Tây say, của đám lính thuỷ Pháp đổ bộ vào các nhà chứa. Tôi yêu tha thiết cái thế giới nhỏ bé của tôi. Ðó là trường học do ông Thông Vôi lập ra ở phố Cầu Ðất”.

Mười hai tuổi Lê Ðại Thanh mồ côi mẹ. Sau này nhớ lại nỗi đau ngày ấy Lê Ðại Thanh nghẹn ngào:

“Mẹ xa con năm mẹ ba mươi tuổi
Tôi như người chết đuối
giữa dòng đời”

“Tôi là con chim se sẻ
lạc giữa rừng người”

“Mỗi gà gáy canh năm ai đánh thức tôi?
Ai đưa tôi ra trường học
Tôi đói trọn đời một hương hoa ngâu ướp suối tóc”

Không còn người mẹ “áo mớ ba mớ bẩy”, suối tóc ướp hoa ngâu, gánh chiếu hoa đi chợ bán, kinh tế gia đình gặp khó khăn. Bù lại, “con chim se sẻ lạc giữa rừng người” cậu học sinh nghèo Lê Ðại Thanh học rất giỏi.

Hai mươi tuổi, tốt nghiệp Cao đẳng, khoa sư phạm, ông đã được bổ nhiệm chính ngạch và được đặc cách dạy lớp Nhì, lớp Nhất tại trường Jules Ferry (Nam Ðịnh). Học trò ông ở đây có nhà văn Nam Cao, nhà cách mạng Ðỗ Ðức Dục. Ngày ấy Nguyên Hồng cũng học ở Jules Ferry nhưng ở lớp khác.

Bốn năm sau do kết bạn với những người cách mạng, những thanh niên có tư tưởng tiến bộ mà nhà nước bảo hộ liệt vào loại thành tích bất hảo như Ngô Gia Tự, Ðỗ Ngọc Du, Nguyễn Công Mỹ, Bùi Ðình Ðổng… ông bị chuyển lên mạn ngược, dạy ở trường Nước Hai (Cao Bằng). Ở đây một loạt học sinh của ông sau này trở thành các tướng lĩnh: Bằng Giang, Quang Trung, Nam Long… Và cũng ở đây, những người bạn của ông như Ngô Gia Tự, Bùi Ðình Ðổng… vẫn đến thăm ông.

Chắc chắn ông không chỉ dạy học trò cách cộng trừ phân số, quy tắc tam suất hay học thuộc lòng lịch sử Pháp bằng tiếng Pháp theo chương trình bắt buộc “Nos ancêtres sont des Gaulois” (Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa). Thầy giáo Lê Ðại Thanh đã thổi vào tâm hồn học sinh của mình lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình yêu nhân dân đang rên xiết dưới ách thống trị của thực dân đế quốc.

Rồi ông được chuyển về làm đốc học ở trường Hàng Kênh thuộc huyện Hải An, tỉnh Kiến An. Chánh mật thám Hải Phòng, tri huyện Hải An đã nói thẳng với ông đốc học cao lớn, đẹp trai, một nhà thơ trẻ thuộc nhiều thơ Pháp, một võ sĩ Judo, một võ sĩ quyền Anh nghiệp dư là Lê Ðại Thanh rằng ông không được đi quá Hải Phòng- Kiến An 30 ki-lô-mét mà không xin phép Kiểm học .

Chỉ tới năm 1941, khi Lê Ðại Thanh về dạy trường Bonnal, tức trường phổ thông trung học Ngô Quyền ngày nay, lệnh ấy mới được nới lỏng. Ông được phép đi tới Hà Nội và cũng chỉ tới Hà Nội mà thôi.

Những cán bộ thay mặt Ðảng phân công ông hoạt động hợp pháp, công khai trong hai phong trào: Truyền bá quốc ngữ và thể dục thể thao (do Ðuy-cu-roa khởi xướng). Ông đã quy
ên tiền mua súng cho cách mạng.

Là một người nổi tiếng, các đảng phái lôi kéo ông. Nguyễn Tường Tam tức nhà văn Nhất Linh, bạn văn của ông, nhiều lần bàn bạc rủ rê ông hoạt động cho Quốc dân đảng. Ông từ chối. Ðại Việt quốc gia liên minh, một đảng thân Nhật hứa dành cho ông chức thị trưởng Hải Phòng. Ông từ chối.

Tháng 5 năm 1945, ông bị hiến binh Nhật bắt. Biết trước tin này, nhưng dựa vào tính hợp pháp của mình, ông không rút vào bí mật. Nhật bắt ông khi ông đang diễn thuyết ở hội quán AFA. Ðỗ Ðức Phin đã đưa hiến binh Nhật đến . Ít lâu sau Phin bị bắn chết. Người thi hành bản án này là Văn Cao, bạn ông.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được đề cử làm phó chủ tịch uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời thành phố, nhưng ông chỉ nhận chức uỷ viên tuyên truyền phù hợp với ông. Trong giai đoạn cách mạng còn đang trứng nước, dựa vào thế lực Tầu Tưởng sang tước khí giới, giải giáp quân đội Nhật, Việt Nam Quốc dân đảng đã bắt ông.

Ðích thân đồng chí Lê Quang Ðạo, lúc ấy là bí thư thành uỷ, sau này là chủ tịch quốc hội, chỉ huy cuộc đấu tranh đòi chúng phải thả ngay Lê Ðại Thanh và hai cộng sự của ông. Hàng nghìn người đứng chật quảng trường Nhà hát lớn. Súng đã nổ. Máu đã chảy. Một số người bị thương trong cuộc đấu tranh này. Trước sức mạnh ấy của quần chúng, Việt Nam Quốc dân đảng đã phải trả tự do cho ông. Ông lại trở về với nhân dân, với cách mạng.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông vào bộ đội, tự nguyện làm chiến sĩ trung đoàn 42. Làm báo Quân Bạch Ðằng của quân khu Ba. Tham gia chiến dịch Trần Hưng Ðạo. Rồi làm báo Cứu Quốc.

Hoà bình lập lại, ông được điều về biên tập thơ cho báo Văn nghệ. Cùng với Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Lê Văn… Năm 1958 ông trở về Hải Phòng, thành phố chôn nhau cắt rốn sau khi đã in dấu chân trên bao nẻo đường kháng chiến. Sống. Học. Ðọc. Làm thơ. Viết truyện. Viết kịch. Trường ca. Hồi ký. Cho đến cuối đời.

Chắc chắn cuộc đời Lê Ðại Thanh sẽ rẽ sang một hướng khác nếu ông không mắc phải hội chứng thi ca. Có thể ông đã tiến bước vững chắc trên quan lộ. Có thể ông chỉ là thầy giáo bình thường. Và như vậy hôm nay chúng ta chẳng có gì để nói về ông. Và như vậy hôm nay Hải Phòng chẳng có một Lê Ðại Thanh thi sĩ. Hải Phòng sẽ nghèo đi, mất đi một nét độc đáo của mình.

Trong những tán lá cổ thụ của khóm rừng văn học nghệ thuật Hải Phòng, chỉ có hai người: Ông và Nguyên Hồng mang tính cách riêng đến thế. Ông như dẫy quán hoa trước cửa Nhà hát thành phố, chỉ Hải Phòng mới có. Ông như sông Lấp, sông Tam Bạc chỉ Hải Phòng mới có. Ông như phố Cầu Ðất chỉ Hải Phòng mới có. Ông như Nguyên Hồng chỉ Hải Phòng mới có.

Chúng ta quen nhìn ông đi trên đường phố Hải Phòng, cao gầy, quần áo nhầu nát, ca vát xộc xệch, mũ phớt, tóc bạc xoã, khuôn mặt nhăn nheo khắc khổ, đôi mắt sáng, bước những bước chậm rãi trên đường, như mộng du lại như dẫm nhừ từng cây số theo cách nói của Mai-a-kôp-xki. Chúng ta đã quen nghe giọng ông, chất giọng tuyệt vời của một giáo viên, một diễn viên, trầm ấm sang sảng trong những buổi gặp mặt cùng ông. Chúng ta đã quen nghe những bề bộn giãi bày của ông về sáng tác, về học ngoại ngữ.

Lê Ðại Thanh làm thơ được đăng báo từ những ngày còn đi học. Tài năng văn nghệ của ông khá đa dạng: Làm thơ, viết văn xuôi, hoạt động kịch nói trên cả ba phương diện: Sáng tác kịch bản, diễn viên, đạo diễn. Tập san Sân Khấu đã viết về ông:

“Gác bỏ những lĩnh vực hoạt động khác thì trong bước phôi thai của kịch nói hình thành để rồi tự khẳng định là một loại hình sân khấu, ông Lê Ðại Thanh có đóng góp của mình. Mãi mãi còn đó một ban kịch Anh Vũ của Thế Lữ và kịch sĩ Lê Ðại Thanh đã từng thủ vai nhà tư sản Trần Thiết Chung trong vở Kim Tiền của Vi Huyền Ðắc. Thời ấy những việc làm đó có giá trị lớn của sự tiếp nhận và giao lưu và thiếu gì cả những ý nghĩa của sự khai trí.”

Cũng thời gian ấy vở kịch Hai người trọ học của Lê Ðại Thanh được giải thưởng Tự lực văn đoàn cùng với Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, một giải thưởng như Kim Lân nói, rất uy tín vì không uỷ viên chấp hành nào trúng cả. Vở Ông giáo Mỹ của ông được công diễn liên tục tại Nhà hát lớn Hà Nội. Ban kịch Lan Sơn – Lê Ðại Thanh là ban kịch sáng giá của cả nước.

“Những năm kháng chiến, sinh hoạt kịch ngắn, độc tấu như một sở trường của Lê Ðại Thanh. Năm 1994, vở Nàng tiên cóc của ông được Sài gòn Audio-Video thực hiện và còn dang dở đó kịch bản Người thi sĩ lấy nữ thần mặt trời và hài kịch triết học Sác lô lên trời.”

Lê Ðại Thanh kịch sĩ, Lê Ðại Thanh văn xuôi, Lê Ðại Thanh nhà giáo, Lê Ðại Thanh nhà cách mạng, nhưng trên tất cả, chúng ta có một Lê Ðại Thanh thi sĩ. Cũng như mọi hoạt động nghệ thuật khác của ông, chúng ta hiện nay có trong tay rất ít thơ ông. Mà ông lại sáng tác rất nhiều. Dường như có cả hàng chục năm ông không in dù ông viết ngày đêm. Bởi đã có một thời gian ông làm người ta sợ.

Tai nạn ập đến khi những bạn bè ông lập ra tờ báo Nhân Văn. Trên tờ báo đó, người ta thấy trong mục Hộp thư có tên ông. Và có tên ông trong danh sách những người ủng hộ tiền cho báo, một số tiền nhỏ vào thời điểm đó: 20.000 đồng. Ðang là biên tập viên báo Văn nghệ, ông được cử đi thực tế Hải Phòng. Hết đợt, ông có quyết định ở lại Hải Phòng, công tác tại sở Văn hoá mà không về Hà Nội nữa. Tại đây ông được giao những việc lặt vặt. Lúc là biên tập cho mấy tờ bướm về chăn nuôi, về thuỷ lợi. Lúc xuống nhà in sửa mo-rát. Lúc dựng kịch cho các huyện. Việc rất ít. Khi có khi không. Ông không thể không làm việc mà vẫn cứ lĩnh lương. Ông cần thời gian để viết trong khi hàng ngày phải đến nhiệm sở làm những việc để mà làm hoặc không làm gì cả. Mọi người dần dần xa lánh ông.

Năm năm như vậy là quá đủ, quá dài. Năm 1963, ông làm đơn xin nghỉ hưu non. Năm ấy ông mới 56 tuổi và còn đang rất khoẻ. Nếu chia tỷ lệ với cái tuổi 90 khi ông qua đời thì còn đang độ tuổi tráng niên. Ðã có những đêm ông thức trắng. Ðã có những đêm ông ngồi một mình rất lâu trước bức tranh Trên sự yên tĩnh đời đời của Lê-vi-tan. Ông ghi vào nhật ký: “Tôi nghĩ đến cái chết như một chuyến đi xa”. Ðã có những phút mềm yếu, nhữ
ng lúc chán nản. Và ông đã vượt qua.

Phùng Quán viết về mình:

“Có những lúc ngã lòng
Tôi lại vịn câu thơ đứng dậy”

Lê Ðại Thanh cũng vậy. Ông lại vịn câu thơ đứng dậy. Ông viết. Học tiếng Nga để đọc Lec-môn-tốp trong nguyên bản. Học tiếng Anh. Học tiếng Ðức. Và viết. Viết như một lẽ sống. Như một cứu cánh. Như một người bị dồn đến chân tường. Nhưng người ta im lặng trước những sáng tác của ông. Bởi vì dưới những bài thơ, những truyện ngắn ấy ký một cái tên Lê Ðại Thanh. Ba tiếng Lê Ðại Thanh ngày ấy đồng nghĩa với ba tiếng có vấn đề. Có vấn đề không là gì cả nhưng lại là tất cả. Ba tiếng Lê Ðại Thanh còn làm chính những người trong gia đình ông lo âu, sợ hãi. Ngày ấy các con ông đều bỏ đi chữ Ðại ở giữa.

Lê Ðại Châu đổi thành Lê Minh Châu.
Lê Ðại Chức thì bỏ hẳn chữ Ðại. Chỉ còn Lê Chức.
Lê Ðại Chúc cũng chỉ là Lê Chúc.

Hình như các con ông không xuất thân từ dòng họ Lê Ðại. Bởi vì có những dấu hiệu bệnh có vấn đề mang tính di truyền. Lê Ðại Thanh hoàn toàn cô đơn. Một người cô đơn ngoài ý muốn. Ðúng hơn, một người bị bỏ quên giữa cuộc đời này. Mà ông cần biết bao một người chia sẻ. “Bạn” là khát vọng của ông.

“Bạn là một nửa bản thân tôi
Nửa da thịt
nửa trái tim
khối óc
Bạn là núi
Tôi là cánh buồm mây đỏ rực
Hoàng hôn vàng nồng nhiệt tới buông neo.”

Hơn ai hết, ông biết khi có bạn, ý chí, sức mạnh con người vừa tăng theo cấp số cộng, vừa tăng theo cấp số nhân:

“Bão tố cuộc đời, tôi không còn e sợ
Tôi có bốn cánh tay ngăn sức gió
Tôi được nhân lên khi bạn cộng với tôi
Tôi mạnh hai lần
Bạn giàu gấp đôi.”

*********

Một số bài thơ của Lê Đại Thanh:

Màu sắc của cái buồn

Tôi vui ngắm nắng chiều hôm
Tìm ra ngôn ngữ cái buồn không gian
Cái buồn xanh của Ngưu Lang
Cái buồn vàng của trăng vàng lưỡi trai
Cái buồn trắng của hoa mai
Hoa mơ, hoa mận, hoa nhài, ngọc lan
Cái buồn tím mát hoa xoan
Buồn mai cua chín một giàn đăng tiêu
Cái buồn đỏ của tình yêu
Mặt trời lửa đốt cháy thiêu tâm hồn
Cái buồn đồng đúc hoàng hôn
Bình minh nấu chảy mây buồn tương tư
Đám thuyền mui bạc sa cừ
Nửa mầu khói xám, nửa như lụa hồng
Người yêu cái đẹp mênh mông
Tìm ra ngôn ngữ cầu vồng cho thơ
Sống lưng vẩy cá mại cờ
Cánh đồng khí quyển mầu lơ da trời.

—–

Mâu thuẫn

Tôi là mâu thuẫn của tôi
Tôi là núi lửa đồng thời núi băng
Tôi là con mọt nghiến răng
Gặm thời gian
Gặm mặt trăng
Mặt trời…
Tôi là mẫu thuẫn của tôi
Tôi cô đơn giữa biển người cô đơn
Tôi mơ là một Trường Sơn
Nghênh đầu đá chọc cánh buồm mây trôi
Tôi là mâu thuẫn của tôi
Ghét trang thơ đẹp chói ngời tư duy
Để yêu một chữ lầm lì
Một hình tượng ở ngoại vi cuộc đời
Tôi là mâu thuẫn của tôi
Sợ chiều cao của mặt trời chói chang
Để tìm một mảnh trăng vàng
Lưỡi liềm gặt hái mùa màng sao xanh.

—–

Con chim và cái lưới

Ðời là sa mạc lửa thiêu
Tôi khao khát một tình yêu cháy lòng
Em
con chim nhỏ
lượn vòng
Tôi quây lưới nhốt
giữa
lồng
tim
tôi
Nhưng tôi thiếu
nắng
mặt trời
Thiếu rừng cây với núi đồi tặng chim

Tình yêu một phút nhen lên
Một giây lại tắt trong đêm
tối mù
Con chim vỗ cánh
bay vù
Trả chim cho gió tôi thu lưới về
Người thơ mãi mãi si mê
Cái bay đi
cái không về
cái trôi
Chiếc lồng là cuộc đời tôi
Em con chim én của trời … tự do…

—–

Ngây thơ

Ú tim
Em đi tìm
Tôi đi nấp
Chân lí bên này bên kia trái đất
Ta yêu con người ta mãi tìm nhau
Sân gạch: Đại dương
Xếp đá
Làm cầu
Ú oà!
Tôi đi ra
Em vào bóng tối
Mười ngón tay mành mành đan vội
Em nhìn thấy tôi em mãi đi tìm
Tôi biết em mở mắt mà tôi không nói
Trò chơi ngây thơ như một cuộc săn đuổi
Mặt ở trên
Ta đi ở dưới.

—–

Nhà trường xưa

Ôi mái trường thân mến của tôi ơi !
Tôi trở lại, gặp tôi thời tuổi trẻ
Tôi đứng xếp hàng với chiếc cặp da nhỏ bé
Chạy trên bậc thang lim khua mạnh gót giày
Những tia nắng vàng lọc qua tán cây
Thêu trên mặt sân những chấm rực rỡ.

Còn không, gốc bàng tôi khắc tên tôi trên vỏ
Cả một trái tim mũi tên nhọn xuyên ngang
Sân trường xưa chỉ có những cây bàng
Mùa đông lạnh thả những bàn tay phẩm đỏ
Tuổi trẻ ưa những trò chơi ngồ ngộ
Tôi thả chim giấy bay từ cửa sổ xuống sân trường.

Tôi nhớ vô cùng tiếng nhạc guốc cầu thang
Tiếng cười vui, tiếng reo, tiếng gọi
Ðâu góc sân nắng xiên chói lọi
Tôi đứng nghĩ thơ cho tờ báo chuyền tay
Nhà trường ơi, tôi đã về đây
Người học sinh của những thời niên thiếu
Tay cầm chiếc gương vàng phản chiếu ánh hoàng hôn

Bạn cũ còn ai tôi xúc động bồn chồn
Lớp bạn trẻ mới, nhìn tôi xa lạ
Vẫn là tôi, những anh chàng nghiêm túc quá
Nhìn những nữ Giáng Kiều thả bím tóc ngang vai
Tất thảy nhìn tôi, cả gái lẫn trai
Không ai biết tôi – ngoài những gốc bàng lá đỏ.
Tôi gửi một chiếc hôn tay cho những khung cửa sổ
Cả chiếc mái cao lợp ngói đỏ tôi yêu
Tôi tìm lại tôi và tìm những kỷ niệm rất nhiều
Quá khứ đẹp khi được nhân lên bằng ký ức
Chào mái trường xưa tôi muốn ghì ôm trên lồng ngực.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: